Tin nổi bật
Đối tác
TEST1TEST1TEST1
7slide2slide 6slide 3slide 4slide1slide mới

IPM CHO CÂY RAU QUẢ VÀ HỒ TIÊU

IPM CHO CÂY RAU QUẢ VÀ HỒ TIÊU
GIỮ GÌN CÂN BẰNG SINH THÁI TRONG ĐẤT VÀ CHIẾN LƯỢC IPM CHO CÂY RAU QUẢ VÀ HỒ TIÊU Natural Balance in Soil and IPM strategy of vegetable, fruit and black peper

GS. Nguyễn Thơ

I/ Đặc điểm của những ký sinh gây bệnh chính trên  rau qủa và cây hồ tiêu:

Những bệnh hại chính của cây rau quả và hồ tiêu trong giai đọan trước và sau thu hoạch phần lớn là do các nhóm ký sinh: Phytophthora, Collectotricum, Pythium, Xanthomonas, Erwinia, Pseudomonas, Botritis, Aspergillus, Rhizopus, Fusarium, Muco, một số bệnh Virus quan trọng như TMV, và tuyến trùng… chúng đều có đặc điểm vừa sống được ký sinh vừa sống được hoại sinh. Giai đọan hoại sinh của nấm và tuyến trùng sống chủ yếu trong đất, các dạng sợi, hạch, bào tử nang, quả nấm… có sức chống chịu rất lớn chúng cũng tồn tại trong rể, xác thực vật nằm trong đất. Vì vậy đất là nguồn bệnh rất lớn cho các loại bệnh cây rau qua và hồ tiêu. Do đó bệnh cây cây ăn trái và hồ tiêu được gọi là “nguồn bệnh có từ đất” Soilborn Diseases.

II/  Đặc điểm chung của quần thể VSV trong đất:

Các loài VSV tồn tại trong đất rất đa dạng, chúng gồm có: Bacteria, Algae, Fungi, Yeast, Actinomycetes, Nematodes, Protozoa, Viruses…Phần lớn VSV sống trong đất, chúng là những sinh vật có ích sống theo kiểu hoại sinh, chỉ một số rất ít là có hại, gây bệnh cho cây trồng sống theo kiểu vừa ký sinh (gây bệnh cho thực vật) vừa hoại sinh (Sống trong đất) như đã nói trên. Chỉ riêng ngành nấm có đến 100.000 species nấm có ích, sống theo kiểu hoại sinh. Chỉ có 8000 species nấm có thể gây bệnh cho thực vật, và phần lớn cũng chỉ sinh sống theo kiểu bán hoại sinh (facultative  saprophytes). Có hơn 1600 species vi khuẩn có ích, sống theo hoại sinh, và chỉ có khoảng 80 species vi khuẩn là có khả năng gây hại, sống theo kiểu bán hoại sinh. Có đến hơn 2000 virus, trong đó chỉ có1/4 các loài virus là có khả năng gây bệnh. Có hơn 2000 species Nematodes, trong đó chỉ có khoảng 1/10 species Nematodes có khả năng kí sinh trên cây trồng.

            Như vậy số lượng quần thể VSV có ích trong đất là chiếm ưu thế hơn rất nhiều lần so với VSV gây bệnh hại tồn tại trong đất. Sau đâychúng ta tham khảo một số mặt có lợi của tập đoàn VSV có ích:

  • Phần lớn các VSV có ích tham gia vào quá trình phân giải xác thực vật thành thức ăn có nguồn gốc hữu cơ cho cây trồng và VSV khác, chúng có vai trò rất quan trọng trong quá trình khoáng hóa trong đất, chúng tham gia vào quá trình cố định đạm, phân giải lân dể tiêu cho cây trồng, VSV đất tạo ra rất nhiều loại enzym, acids amin, vitamin, kháng sinh…là thức ăn và vũ khí tự vệ quan trọng cho cây trồng. Ngoài ra khi các VSV đất chết đi sẽ để lại một lượng thức ăn khổng lồ và có chất lượng rất tốt cho cây trồng…

  • VSV có ích giữ vai trò quan trọng cải tạo đất, làm cho đất tăng độ mùn, có cấu tượng, tơi xốp, háo khí, có độ pH trung tính, làm cho khả năng giữ nước, giữ phân của đất dược tăng cường…Nhờ có hoạt động của VSV làm cho đời sống của đất được tăng lên.

  • VSV có ích đã giúp cho cây trồng hấp phụ dinh dưỡng được tốt hơn.

        - VSV đã góp phần bảo vệ cây trồng, làm giảm tác hại của ký sinh gây bệnh cây.

        - Trong tập đoàn VSV có ích có một số lượng rất lớn VSV đối kháng ngăn chặn sự phát triển các VSV gây bệnh hại cho cây trồng rất hữu hiệu…

       Như vậy hoạt động của quần thể VSV có ích và VSV đối kháng trong đất có vai trò rất quan trọng cho đời sống của cây trồng.

III/ Điều kiện phát triển của VSV có ích và ký sinh gây bệnh trong đất:

Điều kiện sống của VSV có ích và ký sinh gây bệnh trong đất là rất khác nhau, đến mức trái ngược nhau. Sau đây chúng ta có thể tham khảo một số dặc điểm chính:

        - VSV có ích và VSV đối kháng phát triển mạnh trong điều kiện đất giàu mùn, không có những độc tố như phân đạm hóa học, các dư lượng hóa chất BVTV trong đất, có pH trung tính, đất có cấu tượng, háo khí, không úng nước. Như vậy điều kiện sống của VSV có ích và VSV đối kháng rất phù hợp với yêu cầu sinh sống của cây trồng.

        - Ngược lại VSV có hại gây bệnh thì lại thích phát triễn trong điều kiện đất chua , úng, yếm khí nghèo mùn, đất có nhiều dư lượng chất độc hại BVTV không làm ảnh hưỡng đến đời sống của VSV gây bệnh…

            Từ những đăc điểm đó của VSV có ích và có hại, chúng ta phải hết sức thận trọng trong mọi  tác động vào đất và cây trồng như canh tác, bón phân, sử dụng các phương tiện BVTV… đều có tác động tốt hoặc xấu đến quần thể VSV trong đất, cuối cùng là sự phản ảnh hiệu quả của những biện pháp đó trong đời sống và hiệu quả kinh tế lâu dài của cây trồng.

IV/ Con người đã tác động sai trái vào đời sống của VSV và đất như thế nào?

IV.1- Biện pháp canh tác:

Tập quán canh tác làm đất, cày bừa, và lấy hết xác cây trồng ra khỏi ruộng hằng năm đã làm cho đất bị rửa trôi, thoái hóa, đất ngày một nghèo dinh dưỡng, không phù hợp cho đời sống của VSV có ích và làm giảm độ phì của đất.

IV.2- Liên tục bón quá nhiều, và bón thuần phân hóa học:

 Nhờ có phân hóa học trong chiến lược thâm canh, đã làm tăng được năng suất cây trồng lên một cách đáng kể. Tuy nhiên, mặt trái của phân hóa học, nhất là sản phẩm phân đạm từ công nghiệp hóa dầu đã giết chết quá nhiều VSV có ích trong đất. Hơn thế nữa, phân hóa học chẳng những không góp phần bồi bổ mà còn giết chết VSV va bóc lột hết các chất hữu cơ trong đất. Trong điều kiện đó dinh dưỡng của đât trở nên ngày một cạn kiệt, làm cho đời sống của cây trồng trở nên gần như hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào phân bón hóa học, và hiệu quả của bón phân ngày trở nên một thấp dần…

IV.3- Phòng trừ dịch hại bằng hóa học đơn thuần:

Trong thời gian dài hiệu quả của thuốc hóa học là rất to lớn, chúng giết sâu bệnh hại và trong chừng mực nhất định chúng bảo vệ cây trồng cho năng suất, tuy nhiên thuốc hóa học lại cũng giết VSV có ích trong đất nhiều hơn VSV có hại, nhất là các biện pháp xông hơi hoặc tưới thuốc hóa học vào gốc cây bệnh để giết tuyến trùng, nấm và sâu hại…

            Tình trạng sai trái cố hữu nói trên đã liên tục tác động và làm hư hỏng đất trong nhiều năm qua làm cho dịch hại mỗi ngày một gia tăng trên cây rau quả và cây hồ tiêu.

V/  Quan điểm về IPM trên cơ sở tạo cân bằng sinh thái trong trong đất:

Sự thành công trong chiến lược IPM trên một số cây trồng trong thời gian qua chủ yếu dựa vào sự giữ gìn cân bằng sinh thái trong tự nhiên. Hạn chế tối đa dùng thuốc hoá học để trừ sâu bệnh (nguyên nhân chính của sự phá hại môi trường), phối hợp nhiều biện pháp không hóa học để bảo vệ và phát huy quần thể thiên địch, tạo sự cân bằng sinh thái có lợi nhằm làm hạn chế mật độ sâu dưới ngưỡng gây hại kinh tế (Nguyễn Thơ-1996) để sản xuất bông có hiệu quả trong điền kiện nhiệt đới ẩm của Việt Nam. Qua đó cho thấy chúng ta chỉ mới quan tâm đến bảo vệ sự cân bằng sinh thái trên cây trồng phần trên mặt đất.

            Từ kết quả nghiên cứu nhiều tác giả đã chứng minh trong điều kiện dinh dưỡng đất được cân đối, nhất là có nhiều hợp chất hữu cơ, đới sống VSV trong đất phát triển phong phú thì chính quần thể VSV có ích sẽ giúp cho cây trồng hấp thụ đủ dinh dưỡng, phát triển khỏe mạnh, tăng sức đề kháng được sâu bệnh, quần thể VSV đối kháng cũng sẽ phát triển phong phú, đủ sức khống chế  VSV gây bệnh, và hệ quả tổng hợp là có thể kiềm hãm được bệnh ở dưới ngưỡng gây hại kinh te. Đó là hiệu quả của quản lý dịch hại trên cơ sở bảo vệ cân bằng sinh thái trong đất. Từ quan điểm đó nhiều tác giả đã cho thấy, cũng như trên mặt đất việc phá vỡ cân bằng sinh thái, mà chủ yếu là mất cân đối dinh dưõng, và từ đó dẩn đến sự mất cân bằng giữa VSV có ích, VSV đối kháng và VSV gây bệnh đó là điều kiện phát sinh dịch hại ngày một trầm trọng, không phải vì do thiếu thuốc BVTV.

Thực trạng của nông nghiệp nước ta hiện nay là nền nông nghiệp thâm canh bằng hóa học đơn thuần, và canh tác không bảo toàn đất đã lâu ngày nên đất bị thoái hóa, dinh dưỡng mất cân đối, nguồn bệnh tích lủy trong đất, muốn lập lại cân bằng sinh thái trong đất cần phải có một chương trình cải tạo lâu dài…

VI/ Một số suy nghỉ về những biện pháp sinh học và IPM trên cây trồng đang được áp dụng:

            Trong thời gian qua chúng ta cũng đã có nhiều có gắng sử dụng các biện pháp sinh học, canh tác hữu cơ, trồng cây cách ly trong nhà lưới trong hệ thống IPM nhằm làm giảm sâu bệnh hại. Để góp phần thảo luận, chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến như sau :

VI.1- Nhiều nơi đang sử dụng chế phẩm EM (Effective Micro-organism) đưa vào đất, nhằm làm phong phú hóa hệ thống VSV đất. Nói chung biện pháp này đã đem lại những hiệu quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, biện pháp này cũng có những mặt hạn chế. Vì đối với mổi loại đất và cây trồng đều có sẵn hệ thống EM tương ứng của chúng (không phải nhờ con ngươi đưa vào đất mới có), tuy nhiên do thiếu diều kiện, vì đất bị thoái hóa nên chúng không phát triển được. Nay ta đưa EM vào đất nhưng điều kiện sống cho chúng không được cải thiện, thì chúng cũng chỉ phát huy tác dụng một cách hạn chế, và chỉ tồn tại được trong một thời gian ngắn. Như vậy, thay vì đưa EM vào đất, ta bón nhiều hữu cơ, hạn chế tối đa những tác động có hại của hóa chất, tạo nên sự cân bằng dinh dưởng trong đất, dần dần môi trường sống được cải thiện, quần thể VSV có ích sẽ được phát triễn một cách tự nhiên, phong phú, tương ứng với từng loại cây trồng một cách bền vững. Điều này đã có nhiều minh chứng rất rõ trong thực tế sản xuất. Theo Nguyễn Đăng Nghĩa – 2003, bón phân hữu cơ đã làm tăng chủng loại và số lượng vi khuẩn amôn hóa, vi khuẩn khoáng hóa, xạ khuẩn, và các loài nấm có ích rất rõ rệt. Theo Mai Văn Trị và Nguyễn Thị Thuý Bình – 2003, bón phân hữu cơ sinh học đã làm tăng sự hoạt động của VSV đối kháng Actinomycetes dẩn đến ngăn chặn sự phát triễn của nấm Phytophthora palmivora, làm gia tăng tỷ lệ sống của cây sầu riêng trong vườn ươm.

VI.2- Cũng đã có nhiều công trình chứng minh hiệu quả của việc bón phân hữu cơ sinh học nhằm làm tăng VSV có ích, VSV đối kháng để cải tạo đất, làm giảm áp lực sâu bệnh, làm tăng năng suất và chất lượng rau quả. Tuy nhiên những kết quả đó vẫn còn rất khiêm tốn. Sở dĩ như vậy vì trong sản xuất chúng tasử dụng phân hữu cơ còn những hạn chế sau đây:

- Phần lớn phân hữu cơ sinh học được sư dụng chất lượng còn thấp, không đủ dinh dưỡng nên hiệu quả trên cây trồng không rõ ràng.

- Phân hữu cơ sinh học có tác dụng chậm nên phải bón nhiều năm mới thể hiện rõ tác dụng. Hơn nữa đất của chúng ta đã bị thoái hóa lâu ngày, nên không thể cải tạo nhanh chóng được. Tuy nhiên việc áp dụng canh tác hữu cơ của chúng ta chỉ mới bắt đầu.

- Trong sản xuất vẫn còn quá lạm dụng các bịên pháp hóa học, làm hạn chế tác dụng của phân hữu cơ sinh học .

VI.3- Hiện nay chúng ta đang cố gắng nhân nuôi một số VSV như virus, nấm, tuýên trùng đối kháng  để phòng trừ sâu bệnh hại. Ví dụ như sử dụng Nuclea Polyhedrosis Virus (NPV), Bacillus Thurigiensis (BT), Tuyến trùng đối kháng, nấm Metarhizium sp. để trừ sâu, dùng một số chủng VSV đối kháng để trừ nấm gây bệnh… Việc sử dụng VSV đối kháng như là thuốc BVTV sinh học, thực chất chúng ta cũng chỉ là bắt chước VSV đối kháng trong đất, nhưng chỉ ly trích ra được một vài chủng đối kháng riêng lẻ nên thường không đủ sức khống chế sâu bệnh bệnh hại ở mức độ hữu hiệu cao. Nhìn chung phương pháp này bước đầu có hiệu quả nhưng còn rất hạn chế, tuy nhiên khó trở thành có giá trị hàng hóa trong sản xuất, nhất la trong điều kiện kỹ thuật sinh học còn thấp kém như ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên nếu như chúng ta biết chăm sóc cho điều kiện sống trong đất được tốt (chủ yếu là môi trường hữu cơ) cũng như quần thể VSV có ích, các loài VSV đối kháng trong đất cũng sẽ phát triển một cách phong phú đủ sức khống chế sâu bệnh hại một cách hữu hiệu. Do đó biện pháp khử trùng đất, và tưới thuốc vào đất để phòng trừ những sâu bệnh trong đất chỉ là một biện pháp tình thế. Nếu sử dụng những biện pháp đó một cách lâu dài cùng với lạm dụng bón nhiều phân hoá học sẽ giết chết những VSV vật có ích, pha vỡ cân bằng sinh thái trong dất đưa đến hậu quả lợi bất cập hại.  

VI.4- Trong nhiều chương trình sản xuất rau an toàn chúng ta trồng rau cách ly trong nhà lưới, nhưng thực chất trong điều kiện nhiệt đới ẩm như nước ta, nhà lưới không cách ly được côn trùng một cách triệt để, nhất là đối với côn trùng chích hút nhỏ bé. Trong nhiều trường hợp chính trong nhà lưới mật độ sâu bệnh trên cây trồng lại cao hơn ở bên ngoài, (vấn đề này khác với việc bao trái bằng các túi riêng biệt có thể cách ly được nhiều loại sâu bệnh). Tuy nhiên việc đầu tư cho nhà lưới để trồng rau lại rất tốn kém. Trong thời gian qua tỉnh Vỉnh phúc có mô hình trồng rau an toàn trên cơ sở sử dụng phân hữu cơ và hệ thống VSV có ích EM là chính, cộng với các biện pháp quản lý đồng ruộng thật chặt chẽ, mà không phải sử dụng đến nhà luới cách ly. Mô hình này rất thành công và gía thành sản xuất rau an toàn lại rẽ…

             Từ những kết quả của một số biện pháp như đã nêu trên, theo chúng tôi cũng nên có suy nghỉ điều chỉnh để việc quản lý dịch hại tiến hành được thực tế, và có hiệu quả hơn.

VII/  Xây dựng mô hình IPM trên cây ăn quả và hồ tiêu trên cơ sở giữ gìn cân bằng sinh thái trong đất:

             Như vậy, trong chiến lược IPM, cùng với việc bảo vệ cân bằng sinh thái giữa thiên địch vàsâu hại trên cây trồng, phần trên mặt đất, chúng ta phải quan tâm nhiều đến sự cân bằng dinh dưởng trong đất để tạo sự cân bằng giữa VSV có ích (kể cả VSV tạo dinh dưởng và VSV đối kháng) và VSV gây bệnh hại trong đất. Nói chung, đó là giữ gìn sự cân bằng sinh thái trong đất. Đất là một tập hợp hoạt động của nhiều cơ thể sống có hại và có ích, đất luôn chứa đựng những phản ứng hóa học chuyển động theo hai chiều có lợi và có hại, chúng tạo cho cây trồng khỏe mạnh hay phát sinh dịch bệnh,…Nói chung IPM phải đi từ đất, vì đất là cơ sở sự sống của cây trồng, và muôn loài trên hành tinh của chúng ta.

            Vừa qua chúng ta đã có nhiều mô hình IPM khác nhau, mức độ thành công của mổi mô hình cững rất khác nhau… đã đến lúc cần phải tổng kết lại và rút ra những mô hình hữu ích nhất cho năng suất và chất lượng của cây trồng, trong đó có vấn đề tạo mô hính IPM trên cơ sở giữ gìn sự cân bằng sinh thái trong đất dựa trên nền phân hữu cơ sinh học.

Những sâu bệnh chính trên cây hồ tiêu:

  • Bệnh chết nhanh: Bệnh do nấm Phytophtora palmivora gây ra. Vườn tiêu sẽ bị bệnh rất nặng gây chết tiêu hành loạt nếu có sự phối hợp phá hại của tập đòan nấm trong đất như: Fusarium, Rhizoctonia, Pythium, Penicillium. Đây là bệnh gây hại chính trên các vườn tiêu hiện nay. Bệnh thích phát sinh trên đất nghèo hửu cơ, đất chua, yếm khí, kém thóat nước.

  • Bệnh do tuyến trùng: Tuyến trùng gây cho bộ rễ kém phát triễn, dinh dưởng kém. Vườn tiêu bị tuyến trùng hại trỡ nên vàng còi cọc, vàng cây, năng suất và chất lượng rất thấp. Bệnh tuyến trùng rất phổ biến trên các vườn tiêu hiện nay. Tuyến trùng sống và tích lủy trong đất qua nhiều name làm cho vườn tiêu không phát triển được. Phòng trừ tuyến trùng hiệu quả nhất là bón nhiều phân hửu cơ có chất lượng trong thời gian dài.

  • Bệnh “tiêu điên”: Bệnh do tập hợp nhiều lọai virus bền vững, tồn tại trong tàn dư trong đất, một số truyền bệnh qua côn trùng gây ra. Bệnh làm lá bị khảm, biến dạn, cây vàng, sinh trưởng còi cọc, dé tiêu đóng hạt rất thưa, bị “bồ cào” năng suất rất thấp. Bệnh virus trên cây trồng không có thuốc trị. Việc phun thuốc trừ môi giới để ngừa bệnh virus rất kém hiệu quả. Sử dụng giống kháng là có hiệu quả, tuy nhiên hiện nay ở nước ta chưa có giống tiêu kháng, chống chịu được bệnh virus. Dùng biện pháp canh tác, nhất là bón phân cân đối theo hứơng hửu cơ sinh học, chăm sóc cây khỏe, tăng sức đề kháng bệnh hại của cây hồ tiêu là có hiệu quả nhất.

         Ba nhóm bệnh chết nhanh, tuyến trùng, bệnh tiêu điên đã gây cho tiêu chết hàng lọat, làm cho nhiều vườn tiêu suy dinh dưởng, mất mùa nghiêm trọng. Lâu nay việc thâm canh cây hồ tiêu chủ yếu bằng phân hóa học, phòng trừ sâu bệnh hại bằng thuốc hóa học độc hại phun lên cây, đổ thuốc xuống gốc tiêu đều kém hiệu quả, và làm phá vỡ cân bằng sinh thái, làm cho bệnh hại càng thêm nặng nề. Cần phải gấp rút xây dựng một chiến lược phòng trừ tổng hợp (IPM) theo hướng hửu cơ sinh học trên cây tiêu để cứu vãn tình thế các vườn tiêu bị dịch hại nghiêm trọng hiện nay.

Xây dựng mô hình IPM/ICM theo hướng hửu cơ sinh học trên cây hồ tiêu:

      Canh tác:

+  Đào mương thóat úng trong vườn tiêu triệt để. Đây là biện pháp rất quan trọng để hạn chế bệnh nấm trong đất.

+  Phủ rác hoặc cây xanh trong vườn tiêu, không để mặt đất trơ bị rữa trôi, xói mòn.

+   Dùng choái tiêu sống, có thể dùng cây neem làm chóai thay cho cây vông (cây vông chóai tiêu hiện nay bị một lọai ong dục ngọn, gây chết rất nghiêm trọng).

  1. Phân bón:

+  Bón phân hửu cơ có chất lượng ủ hoai triệt để, và phân hửu cơ sinh học là chính (Phân bón gốc, bón lá). Chỉ bón thêm phân hóa học cho cân đối dinh dưởng. Biện pháp nà tạo dinh dưởng tối ưu cho cây tiêu phát triễn, tạo sức đề kháng sâu bệnh cho cây, kìm hảm rất hiệu quả nguồn nấm bệnh và tuyến trùng có từ trong đất.

  1. Sử dụng thuốc BVTV:

+  Dùng nấm đối kháng Trichoderma bón vào đất (ủ chung với phân bón), phun Trichoderma nước vào đất và phun lên cây để trừ nấm bệnh.

+  Bón bả dầu neem cùng với phân bón.

+  Sử dụng chất kích thích tính kháng.

+  Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học.

+  Sử dụng thuốc hóa học hạn chế khi thật cần thiết, không đổ thuốc độc hóa học xuống gốc tiêu.

 

      Mô hình IPM/ICM nói trên là biện pháp chẳn những rất có hiệu quả quản lý dịch hại trên cây hồ tiêu mà còn làm tăng chất lượng của sản phẩm hồ tiêu ViệtNam hiện nay.

VIII/ Tài liệu tham khảo:

  1. George N. Agrios, 1988. Plat Pathology, Third Edition, Academic Press, INC. Harcourt Brace Jovanovich, Publishers. Sandiego, New York, Boston, London, Sydney, Tokyo, Toronto

  2. Anna L. Snowdon, 1990. A Colour Atlas of Post-Harvest Diseases&Vegetables, Volume 1. Wolfe Scientific

  3. Brian Oldreive, 1993. Conrervation Farming for Communal, Small-Scale, Resettlement and Co-operative farmers of Zimbabwe, A Farm Management Hanbook. Prestige Business Services (Pvt) Ltd

  4. Arden B. Andersen, 2000. Science in Agriculture, Advanced methods for sustainable farming. Acres U.S.A., Austin, Texas

  5. L.L. Vawdrey, T.M. Martin and G. Alvero., 2002. The use of soil amenments to manage Phytophthora root rot of pawpaw in the far north of Queensland, Australia. Workshop on Phytophthora in Southeast Asia, Chiang Mai, Thailand 8/12 November 2002

  6. Nguyễn Thơ, 2001. Một số suy nghỉ về trồng cà phê trên nền hữu cơ và phân sinh học,. Thông tin khoa học (Nội san) Số 2/2001, Trường cán bộ quản lý nông nghiệp – PTNT 2

  7. Nguyễn Thơ, Nguyễn Hửu Bình, Ngô Trung Sơn, Nguyễn Thị Hai, Phạm Hữu Nhượng, 2002. Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trong sản xuất bông tại Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về khoa hạo và công nghệ BVTV, Hội KHKT-BVTV Việt Nam, NXB. Nông nghiệp, 2002

  8. Chi cục BVTV Vỉnh Phúc, 2002. Kết quả bước đầu nghiên cứu sản xuất và ứng dụng công nghệ vi sinh hữu hiệu EM trong nông nghiệp và làm sạch môi trường ở Vỉnh Phúc 1999-2002. Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về khoa hạo và công nghệ BVTV, Hội KHKT-BVTV Việt Nam, NXB. Nông nghiệp, 2002

  9. Nguyễn Thơ, 2003,. Một số ý kiến về IPM cho bệnh hại rau quả. Kỷ yếu Hội thảo khoa học BVTV phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh Phía nam Và Tây nguyên, Vũng Tàu 24-25/6/2003, Đại học Nông lâm Tp. HCM, cục BVTV, Công ty SPC

  10. Mai văn Trị và Nguyễn thị Thuy Bình, 2003. Ảnh hưởng của bón phân hữu cơ đối với sinh trưởng, năng suất và bệnh Phytophthoratên cây sầu riêng,. Kỷ yếu Hội thảo khoa học BVTV phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh Phía nam Và Tây nguyên, Vũng Tàu 24-25/6/2003, Đại học Nông lâm Tp. HCM, cục BVTV, Công ty SPC

  11. Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv., 2003. (1) Cải thiện và làm tăng sinh khối các tập đoàn vi sinh có ích trong đất trồng trọt vùng Đông Nam bộ, (2) Đánh gía ảnh hưỡng của một số loại phân bón hữ u cơ đến năng suất và chất lượng rau trồng trên đất xám Tp. HCM, Đề tài thường xuyên cấp bộ, (Thông báo). Viện KHKTNN Miền Nam, Phòng nghiên cứu Nông hóa và Thổ nhưỡng

 

 

Gửi phản hồi

 

Thống kê truy cập
Quảng cáo
qc1
^ Về đầu trang
 
Thiết kế website