Tin nổi bật
Đối tác
TEST1TEST1TEST1
7slide2slide 6slide 3slide 4slide1slide mới

GIỐNG VÀ PHÂN NHÓM CÁC GIỐNG HỒ TIÊU

GIỐNG VÀ PHÂN NHÓM CÁC GIỐNG HỒ TIÊU
Các giống tiêu trồng có thể có nguồn gốc từ các giống tiêu mọc hoang, được thuần hoá và tuyển chọn qua rất nhiều đời trong khoảng thời gian dài. Trong số hơn 100 giống tiêu được biết đến, có một số giống đã và đang dần mất đi trong sản xuất bởi nhiều lý do

Các giống tiêu trồng có thể có nguồn gốc từ các giống tiêu mọc hoang, được thuần hoá và tuyển chọn qua rất nhiều đời trong khoảng thời gian dài. Trong số hơn 100 giống tiêu được biết đến, có một số giống đã và đang dần mất đi trong sản xuất bởi nhiều lý do, chẳng hạn bị loại bỏ vì nhiễm nặng sâu bệnh hại, nhất là bệnh chết nhanh, chết chậm và tuyến trùng, các giống tiêu bản địa dần dần được thay thế bằng một vài giống tiêu cao sản trong sản xuất đại trà (Ravindran và ctv., 2000).

Bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora capsici gây thiệt hại nghiêm trọng cho người trồng tiêu ở Việt Nam và trên thế giới nhưng chưa có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Thực tế trong sản xuất chưa có giống tiêu chống chịu tốt với nấm Phytophthora capsici. Để khắc phục bệnh chết nhanh trên cây tiêu, một số nước sử dụng gốc ghép tiêu dại ghép với tiêu trồng.

Ở Malaysia gốc ghép tiêu dại Piper colubrinumP. cubeba được ghép với giống tiêu trong sản xuất (P. nigrum) cho thấy không tiếp hợp (Paulus và Eng, 2005). Đồng thời thử nghiệm các cách ghép khác nhau như ghép mắt, ghép kiểu yên ngựa, ghép vạt ngọn và ghép nêm nhưng kết quả không có sự khác biệt giữa các cách ghép. Hầu hết sau bốn năm trồng cây tiêu suy yếu dần, tuy nhiên sự không tương hợp này không biểu hiện ở giai đoạn vườn ươm, đồng thời tại vị trí ghép phình to lên, vỏ xuất hiện những vết nứt dọc.

Ở Brazil sử dụng giống tiêu dại P. colubrinum để làm gốc ghép, cây tiêu ghép phát triển tốt vào giai đoạn đầu, tuy nhiên sau khi trồng bốn năm cây tiêu ghép sinh trưởng kém dần (Ravindran và ctv., 2000). Những thí nghiệm sử dụng gốc ghép giống P. chaba ghép với nhiều giống tiêu đang trồng trong sản xuất nhưng không thành công, cụ thể vị trí ghép bị tách sau hai năm trồng có lẽ do không tương hợp (Manohara và ctv., 2004). Ở Ấn Độ, cây tiêu dại P. colubrinum ghép với giống tiêu trong sản xuất cho thấy cây tiêu ghép sinh trưởng và phát triển kém trong một thời gian dài (Mathew và Peter, 2002). Theo Manohara và ctv. (1992; trích dẫn bởi Lily Eng, 2005) ghi nhận ghép giữa giống tiêu trong sản xuất và gốc tiêu dại P. colubrinum, P. hirsutumP. arifolum thì không thành công.

Ngoài ra, thí nghiệm ghép hom tiêu trên trầu và tiêu trên tiêu khẳng định khả năng tiếp hợp để hom ghép có thể sống và phát triển bình thường là không có vì tiêu và trầu không có vòng tượng tầng tập trung, mạch gỗ ít phát triển (Tôn Nữ Tuấn Nam và ctv, 2002).

            Viện Nghiên cứu Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế đưa ra bảng chỉ dẫn dựa vào các chỉ tiêu hình thái để nhận diện giống tiêu, bao gồm 29 chỉ tiêu về thân, lá và các đặc tính sinh trưởng, 30 chỉ tiêu về gié và quả (hạt tươi) và sáu chỉ tiêu về hạt (IPGRI, 1995).

            Ravindran (1991; trích dẫn bởi Ravindran và ctv., 2000) và Ravindran và ctv. (1997a,b) đã tiến hành phân tích hợp phần chính (principal component analysis) để phân định nhóm giống hồ tiêu, xác định được tám hợp phần chính bao gồm:

  1. Chỉ số kích thước lá, chiều dài lá, chiều rộng lá
  2. Độ dày lá, độ dày biểu bì dưới lá, độ dày biểu bì trên lá
  3. Tỉ lệ chiều dài lá/chiều dài gié, chiều dài gié, chiều dài cuống gié
  4. Chiều dài và chiều rộng tế bào bảo vệ (guard cell)
  5. Kích thước quả và hình dạng quả
  6. Hình dạng lá và phía gốc lá
  7. Tần suất khí khổng và mật độ diệp lục
  8.  Hình dạng lá ở cành cho quả và hình dạng lá ở cành bò (dây lươn).

Trong 51 giống được phân tích, kết quả cho thấy có 28 giống nằm chung một nhóm, và điều đáng lưu ý là Panniyur 1 nằm vào một nhóm riêng.

Kết quả điều tra trong sản xuất được tiến hành bởi IISR cho thấy chỉ riêng ở Ấn Độ đã có 38 giống tiêu được trồng phổ biến và 63 giống khác được phát hiện (IISR, 1997).

Viện Nghiên cứu Gia vị Ấn Độ (IISR) tiến hành chương trình tuyển chọn và lai tạo giống hồ tiêu từ năm 1953 với mục đích chọn tạo được các giống tiêu có khả năng cho năng suất cao và kháng được sâu bệnh. Viện đã đưa vào sản xuất giống tiêu lai Panniyur-1 cho năng suất cao và chống chịu tốt bệnh chết nhanh và đang khu vực hoá hai giống Panniyur-2 và Panniyur-3. Hiện IISR đang trồng bảo quản và theo dõi tập đoàn 2.300 ký hiệu giống bao gồm cả 940 ký hiệu tiêu hoang dại (IISR, 2005).

            Sim và ctv. (1993) cho biết có ba giống tiêu được trồng nhiều ở Malaysia, trong đó Kuching là giống được trồng phổ biến nhất, cho năng suất khá cao nhưng dễ nhiễm bệnh chết nhanh (do nấm Phytophthora sp.). Năm 1988 và năm 1991, trung tâm Sarawak đã chuyển giao thêm hai giống là Semongok perak và Semongok emas. Hai giống này cho quả sớm sau khi trồng và kháng được bệnh thán thư, ngoài ra Semongok emas còn có ưu điểm ra hoa tập trung, chín đồng đều hơn, chỉ cần thu hoạch 2-3 lần, so với Kuching phải thu 4-6 lần. Semongok perak tuy có phẩm chất thơm ngon, năng suất cao trong những năm đầu kinh doanh nhưng kém bền vững sau vụ thứ ba vì dễ nhiễm bệnh chết nhanh (Paulus and Wong, 2000).

Ở Indonesia, bên cạnh giống Bangka cho năng suất cao và được trồng phổ biến, còn có giống Belangtoeng cho năng suất trung bình, ba giống chống chịu tốt bệnh chết nhanh là Banjarmasin, Duantebei và Merefin, và hai giống chọn lọc cho năng suất cao được phổ biến trong sản xuất giữa thập niên 1990 là Natar 1 và Natar 2.

Ở Việt Nam, giống tiêu được trồng trong sản xuất hiện nay là các giống tiêu nhập nội, với đặc điểm nhân giống vô tính nên quần thể giống không phong phú như một số nước khác, mỗi vùng trồng tiêu chính thường chỉ có vài ba giống phổ biến. Theo Phan Hữu Trinh và ctv. (1988) cây tiêu được đưa vào canh tác tương đối quy mô ở vùng Hà Tiên nước ta vào đầu thế kỷ thứ 19, sau đó được trồng ở nhiều vùng Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ, vùng hồ tiêu chủ yếu ở tỉnh Quảng Trị là các vùng có độ cao so với mặt biển dưới 100 m. Các giống tiêu được trồng trong thời gian này chủ yếu là các giống có nguồn gốc từ Campuchia và một số giống địa phương không rõ nguồn gốc.

Năm 1947, giống Lada Belangtoeng có nguồn gốc Indonesia được nhập vào nước ta từ Madagascar, được xem là giống có nhiều triển vọng và có khả năng chống bệnh thối rễ (Phan Hữu Trinh và ctv., 1988).

Năm 1950, Nha Khảo cứu và Sưu tầm Nông Lâm Súc Miền Nam Việt Nam đã khảo nghiệm việc trồng tiêu trên cao nguyên Bảo Lộc có độ cao trên 500m so với mặt biển (Nguyễn Cao Ban, 1956). Sau sáu năm khảo nghiệm tác giả này đã khẳng định cây tiêu hoàn toàn có thể sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất khá cao dưới điều kiện khí hậu cao nguyên nước ta. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của sáu giống tiêu: Srechea, Kampot (từ Campuchia), tiêu Quảng Trị, tiêu Sơn (Pleiku), tiêu Di Linh và giống Lada Belangtoeng, tác giả đã kết luận giống Lada Belangtoeng tỏ ra hợp khí hậu vùng Bảo Lộc, sinh trưởng khỏe, ít bệnh, chùm tiêu dài, thơm cay, năm giống còn lại ít thích hợp hơn.

Năm 1960 giống Lada Belangtoeng được đưa ra trồng ở Quảng Bình, giống Vĩnh Linh cũng tỏ ra thích nghi với khí hậu vùng này, có nhiều ưu điểm về sinh trưởng, năng suất và chống đỡ bệnh tật hơn giống Quảng Trị (Lê Minh Xuân, 1981; Lê Minh Xuân và Nguyễn Văn Phấn, 1983).

Theo Trần Văn Hoà (2001) các giống tiêu có triển vọng phát triển ở nước ta gồm giống Sẻ địa phương vùng Đông Nam Bộ, các giống nhập từ Campuchia qua đường Hà Tiên là Sréchéa, Kamchay, Kampot, Kep, giống Lada Belangtoeng từ Indonesia và Panniyur-1 từ Ấn Độ.

            Các công trình nghiên cứu về giống tiêu ở Việt Nam tập trung nhiều trong khoảng thời gian 1925-1954, sau khi chính quyền thuộc địa thành lập Viện Khảo cứu Nông Lâm Đông Dương (Institut de Recherches Agronomiques et Forestières de l’Indochine), nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam.

            Giống hồ tiêu được nhập nội, chọn lọc và phát triển nhiều trong thập niên 1940-1950 (Phan Quốc Sủng, 2000; Việt Chương, 1999; Phan Hữu Trinh và ctv., 1988). Kể từ thập niên 1960 công tác nghiên cứu về giống tiêu không được tiến hành liên tục.

            Khi nói đến triển vọng cây tiêu xuất khẩu ở Miền Nam Việt Nam, Tappan (1972; trích dẫn bởi Nguyễn Phi Long, 1987) khuyến cáo nên du nhập bốn giống có ưu thế, gồm Balancotta và Kalluvalli gốc Ấn Độ cho năng suất cao và hạt lớn, Kuching gốc Malaysia cho năng suất cao, Lada Belangtoeng gốc Indonesia sinh trưởng khỏe và chống chịu tốt bệnh thối rễ. Chỉ trừ giống Lada Belangtoeng được nhập vào trồng khảo nghiệm ở nhiều vùng trong nước, các giống khác chưa được quan tâm nhập nội khảo sát một cách chính thức.

            Các giống tiêu được trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay chủ yếu do nông dân tự chọn lọc từ nguồn giống địa phương hoặc du nhập từ địa phương khác, giống thường mang tên địa phương có trồng nhiều hoặc xuất xứ từ địa phương, do vậy có khi một giống tiêu được mang nhiều tên khác nhau, nhiều giống/dòng tiêu khác nhau lại mang cùng một tên. Nhìn chung, các giống được trồng phổ biến có thể phân thành ba nhóm dựa trên các đặc tính hình thái, chủ yếu là kích cỡ lá:

            1) Tiêu lá nhỏ còn gọi là tiêu Sẻ, gồm phần lớn các giống tiêu được trồng phổ biến ở nhiều địa phương, trong đó có các giống: Vĩnh Linh (Quảng Trị), Tiêu Sơn (Gia Lai), Di Linh (Lâm Đồng), Sẻ Đất đỏ (Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang), Nam Vang (nhập nội từ Campuchia, gồm ba giống Kamchay, Kep và Kampot).

            2) Tiêu lá trung bình gồm chủ yếu các giống tiêu nhập nội từ Madagascar, Ấn Độ và Indonesia như: Lada Belangtoeng, Karimunda, Panniyur và Kuching.

            3) Tiêu lá lớn còn gọi là tiêu Trâu như các giống Sẻ mỡ, Trâu Đất đỏ (Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu).

            Trong số các giống trên, giống Lada Belangtoeng được trồng phổ biến nhất, đặc biệt là ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên (Phan Quốc Sủng, 2000). Có thể một số giống tiêu có tên gọi khác nhau ở một số địa phương có nguồn gốc từ giống Lada Belangtoeng.

Giai đoạn 2001-2005 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chủ trì đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ và thị trường để phát triển vùng hồ tiêu nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu” mã số KC.06.11.NN thuộc Chương trình KC06. Kết quả điều tra trong thực tế sản xuất cùng với kết quả bước đầu các thí nghiệm, khảo nghiệm và mô hình trình diễn cho thấy 3 giống Vĩnh Linh, Lada Belangtoeng và Ấn Độ (Panniyur) có khả năng chống chịu bệnh tốt, cho thu hoạch sớm, có tiềm năng cho năng suất cao và ổn định, phẩm chất hạt đáp ứng tốt cho yêu cầu chế biến tiêu đen và tiêu sọ.

Gửi phản hồi

 

Thống kê truy cập
Quảng cáo
qc1
^ Về đầu trang
 
Thiết kế website