Tin nổi bật
Đối tác
TEST1TEST1TEST1
7slide2slide 6slide 3slide 4slide1slide mới

BỆNH CHẾT NHANH HỒ TIÊU

BỆNH CHẾT NHANH HỒ TIÊU
Triệu chứng - Ban đầu rễ biến màu và có màu nâu nhạt hay màu nâu sũng nước, sau chuyển sang màu nâu đen.  - Rễ bị thối, không cung cấp đủ nước, dinh dưỡng cho cây làm cây bị héo nhanh, mép lá hơi co lại và có thể trở nên vàng trước khi rụng. Sau khi rụng, quả bắt đầu nhăn nheo và khô. - Mạch dẫn trong thân cây thường bị đen. Bệnh có thể quan sát thấy trong mùa mưa, từng nhánh cây bị héo xanh....

1. Triệu chứng

- Ban đầu rễ biến màu và có màu nâu nhạt hay màu nâu sũng nước, sau chuyển sang màu nâu đen.

 - Rễ bị thối, không cung cấp đủ nước, dinh dưỡng cho cây làm cây bị héo nhanh, mép lá hơi co lại và có thể trở nên vàng trước khi rụng. Sau khi rụng, quả bắt đầu nhăn nheo và khô.

- Mạch dẫn trong thân cây thường bị đen. Bệnh có thể quan sát thấy trong mùa mưa, từng nhánh cây bị héo xanh và có thể chết từng phần trên “nọc tiêu”. Nhiều khi trong mùa mưa, bệnh cũng gây thối chùm hoa và chùm quả. 

- Lưu ý: Cây bị nhiễm bệnh ở cổ rễ sẽ chết héo đột ngột, lá chuyển sang màu đen, khô sớm và còn dính lại trên cây. Ngược lại, nếu cây bị nhiễm từ rễ lá bị héo vàng và rụng lá từ từ gần giống chết chậm. 

- Biến chứng: Bệnh tấn công vào lá, xâm nhập trực tiếp qua biểu bì hoặc gián tiếp qua khí khổng khi đó biểu hiện là những chấm đen ban đầu đặc trưng ở những lá sát mặt đất. 

2. Nguyên nhân gây bệnh

- Do nấm Phytophthora capsici gây hại thuộc lớp nấm trứng (nấm tảo). Giai đoạn cuối của bệnh thường có các nấm khác như Fusarium, Collectotrichum phụ sinh và làm bộ phận bị bệnh thối nhanh. 

3. Quy luật phát sinh bệnh

- Bệnh phát sinh mạnh trong điều kiện ẩm ướt, nhiệt độ từ 18-22 0C (<10 0C hoặc >28 0C bệnh không xuất hiện); ẩm độ cần cho sự xâm nhập của nấm là bão hoà, ẩm độ cho sự phát triển không nhỏ hơn 76%.

- Vào thời gian mưa nhiều là giai đoạn thích hợp cho bệnh phát triển. Những vườn tiêu chăm sóc kém, ẩm thấp, bị đọng nước nhiều ngày thường bị bệnh nặng. Mức độ phát sinh phát triển của bệnh còn phụ thuộc vào thời tiết, giống hồ tiêu cũng như đất đai, phân bón.

- Nguồn bệnh lây lan trên đồng ruộng là bọc bào tử, bào tử động và sợi nấm. Bào tử trứng (bào tử vách dày) là nguồn bệnh tồn tại cho vụ sau năm sau.

4. Phòng trừa.

a. Phòng bằng biện pháp canh tác

- Bón phân cân đối, dùng phân chuồng hoai mục hoặc hữu cơ vi sinh cho đất tơi xốp, bón vôi để khử chua.- Cắt cành lá sát gốc cho thông thoáng, không được làm cỏ trong lúc trời mưa để hạn chế làm đứt rễ tiêu.

- Không xới xáo mặt đất vùng rễ cây. Phải thiết kế các vườn trồng hồ tiêu sao cho về mùa mưa phải dễ thoát nước, thoát nước nhanh, không có các khu vực đọng nước cục bộ khi mưa lớn cũng như tình trạng úng ngầm. Về mùa khô, không để cây hồ tiêu bị khô hạn.

- Chọn các hom khỏe mạnh trên các khu trồng hồ tiêu chưa bị bệnh để nhân giống. Hom giống trước khi giâm, trồng phải ngâm trong dung dịch nước thuốc trong thời gian 20 – 30 phút để chống nấm xâm nhiễm gây hại. 

b. Phòng trừ bằng thuốc hóa học

- Lưu ý phòng và trừ tuyến trùng là môi giới gây bệnh. Khi phát hiện thấy bệnh mới chớm xuất hiện dùng các thuốc đặc hiệu pha theo hướng dẫn tưới 3 – 5 lít nước thuốc/ trụ. Cây bị bệnh nặng phải đổ lần 2 cách lần 1 từ 7 đến 10 ngày hoặc có thể phun định kỳ. Những cây xung quanh cây bị bệnh cũng cần xử lý thuốc để tránh lây lan.

- Một số hoạt chất phòng trừ hiệu quả: Phosphonate, Fosetyl Aluminium, Prapomocard, Metalaxyl, Dimethomorph,....- Những cây hồ tiêu đã bị chết do bệnh cần đào bỏ kịp thời và xử lý đất bằng vôi bột 0,5 – 1,0 kg/hố, phơi ải, sau ít nhất 1 năm mới trồng hồ tiêu trở lại.

 

Gửi phản hồi

 

^ Về đầu trang
 
 
 
Thiết kế website